các hình thức ghi sổ kế toán là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên google về chủ đề các hình thức ghi sổ kế toán. Trong bài viết này, hocketoan.com.vn sẽ viết bài Tổng hợp các hình thức ghi sổ kế toán cho doanh nghiệp mới nhất hiện nay
1. khái niệm
Công tác kế toán ở các đơn vị bao giờ cũng xuất hành từ chứng từ nguồn và chấm dứt bằng nền tảng báo cáo kế toán thông qua tiến trình ghi chép, theo dõi, tính toán và giải quyết số liệu trong nền móng sổ kế toán.
Việc quy định phải xây dựng những loại sổ kế toán nào để phản ánh các phân khúc của kế toán, kết cấu của từng loại sổ, trình tự; bí quyết ghi sổ và mối liên hệ giữa các loại sổ nhằm đảm bảo vai trò, chức năng và Nhiệm vụ của kế toán được gọi là hình thức kế toán.
Theo chế độ kế toán hiện hành, có 5 hình thức kế toán mà các tổ chức kinh tế đủ nội lực chọn vận dụng. Các hình thức kế toán hiện hành bao gồm:
– thể loại Nhật ký – Sổ cái
– hình thức Nhật ký chung
– thể loại Chứng từ ghi sổ
– hình thức Nhật ký – chứng từ
– hình thức kế toán trên máy vi tính.
Việc ứng dụng thể loại kế toán này hay hình thức kế toán khác là tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm sản xuất mua bán và trình độ thống trị của các doanh nghiệp và quy định về phân khúc mà đơn vị kế toán lựa chọn cho thích hợp.
Nhưng cần lưu ý là khi đã chọn hình thức kếtoán nào để vận dụng trong tổ chức thì nhất thiết phải tuân theo các quy tắc cơ bản của thể loại kế toán đó, k được vận dụng chắp vá tuỳ tiện giữa thể loại nọ với thể loại kia theo kiểu riêng của mình.
2. hình thức Nhật ký Sổ cái
2.1. Các loại sổ kế toán
Các loại sổ kế toán của thể loại Nhật ký – Sổ cái bao gồm các loại sổ sách chủ yếu sau đây:
– Nhật ký – Sổ cái:
Nhật ký – Sổ cái là một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất, có sự hòa hợp chặt chẽ giữa phần Nhật ký để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo trình tự thời gian, với phần Sổ cái để phân loại các nghiệp vụ kinh tế đó theo các account kế toán.
Nhật ký – Sổ cái gồm nhiều trang, mỗi trang có 2 phần: một phần sử dụng làm sổ nhật ký gồm các cột: ngày tháng, số hiệu của chứng từ, trích yếu content nghiệp vụ kinh tế và số vốn.
Phần dùng làm sổ cái được chia ra nhiều cột, mỗi cột ghi một tài khoản, trong mỗi cột to (ghi một tài khoản) lại chia 2 cột nhỏ để ghi bên Nợ và bên Có của account đó. số lượng cột trên sổ nhiều hay ít lệ thuộc vào số lượng các account phải sử dụng (xem mẫu Nhật ký – Sổ cái).
– Các sổ và thẻ kế toán chi tiết:
Sổ và thẻ kế toán chi tiết trong hình thức Nhật ký – Sổ cái gồm:
+ Sổ thẻ kế toán chi tiết tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định và vốn mua bán.
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu, tool công cụ, thành phẩm hàng hoá.
+ Sổ kế toán chi tiết các loại vốn bằng tiền (như: sổ quỹ tiền mặt, tiền gìn bank và vốn bằng tiền khác).
+ Sổ chi tiết tiền vay (vay ngắn hạn ngân hàng, vay dài hạn bank
+ Sổ hoặc thẻ kể toán chi tiết các nghiệp vụ thanh toán, thanh toán với người bán, người nhận thầu, người mua, người đặt mua, sổ chi tiết các khoản phải thu, phải trả và các khoản thanh toán trong nội bộ, thanh toán với nhà nước và các nghiệp vụ thanh toán không giống đòi hỏi phải theo dõi chi tiết.
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết chi phí sản xuất và phí tổn lưu thông.
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết ngân sách vốn đầu tư cơ bản và cấp phát đầu tư cơ bản.
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết các khoản không giống tuỳ theo yêu cầu quản lý.
nội dung và kết cấu của các sổ và thẻ kế toán chi tiết dựa vào vào tính chất của các thị trường hạch toán và yêu cầu thu nạp các kpi phục phụ công tác quản lý và lập báo cáo.
danh mục các loại sổ, mẫu biểu và phương thức ghi chép từng loại sổ được nêu rõ và chi tiết ở các sách tut thực hiện chế độ kế toán.
2.2. Trình tự ghi sổ.
Trình tự ghi chép kế toán trong hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái như sau: hàng ngày, khi nhận được chứng từ gốc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, nhân viên giữ sổ Nhật ký – Sổ cái phải
test chứng từ về mọi mặt, căn cứ vào content nghiệp vụ trên chứng từ định hình tài khoản ghi Nợ, account ghi Có và ghi các nội dung cán thiết của chứng từ vào Nhật ký – Sổ cái.
Mỗi chứng từ gốc được ghi vào sổ Nhật ký – Sổ cái trên một dạng cùng lúc ở cả hai phần: trước tiên ghi vào cột ngày tháng, số hiệu của chứng từ, diễn giải nội dung và số tiền tài nghiệp vụ trong phần nhật ký, sau đó ghi số tiền của nghiệp vụ vào cột ghi Nợ và cột ghi Có của các tài khoản có liên quan trong phần sổ cái.
Cuối tháng, sau khi phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong tháng vào Nhật ký – Sổ cái.
nhân viên giữ sổ tiến hành khoá sổ, tìm ra tổng số tài nguyên ở phần nhật ký, tổng số phát sinh Nợ, phát sinh Có và số dư của từng tài khoản ở phần sổ cái song song tiến hành tra cứu đối chiếu số liệu Nhật ký – Sổ cái bằng cách:
quét tổng số phát sinh Nợ và tổng phát sinh Có của tất cả các tài khoản ở phần sổ cái đối chiếu với tổng số vốn ở phấn nhật ký.
Và get tổng số dư Nợ của all các tài khoản đối chiếu với tổng số dư Có của tất cả các tài khoản trên sồ cái. Nếu các tổng số nói trên khớp bằng nhau thì việc tính toán số phát sinh và số dư của các account trên Nhật ký Sổ cái được coi là chính xác.
tuy nhiên để đảm bảo tính chuẩn xác của các số liệu hạch toán trên từng account thống kê, trước khi lập báo biểu kế toán, nhân viên giữ Nhật ký – Sổ cái phải tiến hành đối chiếu số phát sinh Nợ, phát sinh Có và số dự của từng tài khoản trên sổ cái với số liệu của các bảng đo đạt số liệu kế toán chi tiết của các tài khoản tương ứng.
Chứng từ nguồn sau khi ghi Nhật ký – Sổ cái được chuyển ngay đến các bộ phận kế toán chi tiết có liên quan để ghi vào sổ hoặc thẻ kế toán của từng tài khoản.
Cuối tháng nhân viên các phần hành kế toán chi tiết cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào số liệu của các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết lập bảng thống kê chi tiết của từng tài khoản đo đạt để đối chiếu với số liệu trên tài khoản thống kê trong Nhật ký – Sổ cái
Mọi sai sót trong tiến trình kiểm tra đối chiếu số liệu phải được sửa chữa kịp thời đúng các bí quyết sữa chữa sai sót quy định trong chế độ về sửa chữa sổ sách kế toán.
Nhật ký – Sổ cái và các bảng tổng hợp chi tiết sau khi rà soát, đối chiếu và chỉnh lý số liệu khớp đúng được dùng để lập bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán không giống.
có thể mô tả trình tự ghi sổ theo thể loại Nhật ký – Sổ cái theo sơ đồ sau đây:
3. hình thức kế toán nhật ký chung
3.1. Các loại sổ kế toán
hình thức kế toán nhật ký chung gồm có các loại sổ kế toán chủ
– Sổ nhật ký chung:
Sổ nhật ký chung (còn gọi là nhật ký tổng quát) là sổ kế toán đo đạt căn bản sử dụng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và quan hệ đối ứng tài khoản của nghiệp vụ đó, làm căn cứ để ghi vào sổ cái. Sổ nhật ký chung là loại sổ đóng thành tập ghi toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu trong tổ chức.
– Sổ cái:
Sổ cái là sổ kế toán thống kê, sử dụng để tập trung và hệ thống hoá các nghiệp vụ phát sinh theo từng account. Số liệu của sổ cái cuối tháng, sau khi đã cộng số phát sinh và rút số dư của từng account được sử dụng để lập bảng cân đối số phát sinh, bảng cân đối kế toán và các báo biểu kế toán không giống.
– Sổ nhật ký đặc biệt:
Sổ nhật ký đặc biệt được dùng trong trường hợp nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều nếu tập trung ghi tất cả vào sổ nhật ký chung thì sẽ có trở ngại về nhiều mặt, do vậy mở các sổ nhật ký đặc biệt để ghi chép riêng cho một số loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều và lặp đi lặp lại.
Khi dùng sổ nhật ký đặc biệt thì những chứng từ gốc cùng loại phát sinh nhiều đó trước tiên được ghi vào sổ nhật ký đặc biệt (sổ nhật ký đặc biệt thường là loại sổ nhiều cột) sau đó, hàng ngày, định kỳ hoặc cuối tháng đo đạt số liệu của sổ nhật ký đặc biệt ghi vào sổ cái
– Các sổ thẻ kế toán chi tiết:
Ngoài các sổ kế toán thống kê nêu trên, trong thể loại nhật ký chung các loại sổ kế toán chi tiết cũng như hình thức kế toán Nhật ký – sổ cái, tuỳ theo yêu cầu quản lý đối với từng loại tài sản hoặc từng loại nghiệp vụ như: tài sản cố định, vật liệu, hàng hoá, thành phẩm, ngân sách sản xuất…
người ta phải xây dựng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết. Đây là loại sổ kế toán dùng để ghi chi tiết các sự việc vừa mới ghi trên sổ kế toán thống kê nhằm giúp cho yêu cầu của công tác thống trị, tra cứu và đánh giá. Khi mở các sổ kế toán chi tiết thì chứng từ gốc được ghi vào sổ kế toán chi tiết, cuối tháng căn cứ vào các sổ chi tiết lập các bảng đo đạt chi tiết để đối chiếu với số liệu của tài khoản đó trong sổ cái hay trong bảng cân đối số phát sinh.
3.2. Trình tự ghi sổ
Trình tự ghi chép trong hình thức kế toán nhật ký chung giống như sau: hàng ngày căn cứ vào các chứng từ nguồn, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian. Hàng ngày hoặc định kỳ lấy số liệu trên nhật ký chung ghi vào sổ cái.
Trường hợp sử dụng sổ nhật ký đặc biệt thì so với các chứng từ nguồn có nghiệp vụ kinh tế phát sinh cùng loại, được tụ hội ghi vào các sổ nhật ký đặc biệt, định kỳ đo đạt số liệu trên sổ nhật ký đặc biệt ghi vào sổ cái. Cuối tháng cộng số phát sinh và rút số dư của từng account trên sổ cái và lập bảng cân đối số phát sinh.
so với các account có mở sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết thì, chứng từ gốc sau khi ghi vào sổ nhật ký chung hoặc sổ nhật ký đặc biệt, được chuyển đến kế toán chi tiết để ghi vào các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết liên quan, cuối tháng cộng sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết lập các bảng đo đạt chi tiết của từng tài khoản.
Sau khi rà soát đối chiếu khớp đúng các số liệu giữa các bảng thống kê chi tiết với các account đo đạt trên sổ cái hoặc bảng cân đối số phát sinh thì: Bảng cân đối số phát sinh, các bảng đo đạt chi tiết được dùng sử dụng căn cứ để lập bảng cân đối kế toán và các báo biểu kế toán.
Xem thêm: Hướng dẫn sử dụng phần mềm kế toán excel theo thông tư 133 hiện nay
4. hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
4.1. Các loại sổ kế toán
thể loại chung từ ghi sổ kế toán bao gồm các sổ kế toán chủ yếu sau đây:
– Sổ cái:
Sổ cái là sổ kế toán tổng hợp sử dụng để tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo các khoản tổng hợp. Sổ cái thường là sổ đóng thành quyển, xây dựng cho từng năm: trong đó mỗi account được dành riêng một trang hoặc một số trang tuỳ theo tỉ lệ nghiệp vụ ghi chép ít hay nhiều.
Trường hợp một account phải dùng một số trang thì cuối mỗi trang phải cộng tổng số theo từng cột và chuyển sang đầu trang sau.
Cuối mỗi kỳ kế toán phải khoá sổ, cộng số phát sinh Nợ và số phát sinh Có, rút số dư của từng account để làm căn cứ lập bảng cân đối số phát sinh và các báo cáo kế toán.
– Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là sổ kế toán đo đạt dùng để tải ký tổng số tiền tài toàn bộ các chứng từ ghi sổ theo trình tự thời gian (nhật ký).
content chủ yếu của sổ này có các cột: Số hiệu, ngày tháng của chứng từ ghi sổ. Ngoài mục tiêu tải ký các chứng từ ghi sổ phát sinh theo trình tự thời gian, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ còn sử dụng để cai quản các chứng từ ghi sổ và tra cứu đối chiếu với tổng số tiền đã ghi trên các account kế toán.
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ xây dựng cho cả năm, cuối mỗi kỳ phải cộng số phát sinh trong cả kỳ để sử dụng căn cứ đối chiếu với bảng cân đối số phát sinh.
– Các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết:
Sổ và thẻ kế toán chi tiết trong thể loại chứng từ ghi sổ cũng như thể loại Nhật ký – Sổ cái và thể loại nhật ký chung. Ba hình thức nêu trên hầu hết các sổ thẻ chi tiết dùng chung nhau.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý đối với từng nội dung kinh tế mà kế toán xây dựng các sổ phù hợp như: sổ chi tiết tài sản cố định, nguyên vật liệu, hàng hoá, sản phẩm, thu nhập, chi phí; sổ theo dõi từng loại vốn bằng tiền, sổ chi tiết tiền vay, các khoản phải thu, phải trả…
người ta phải mở các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết đối với từng account bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý.
Trong thể loại kế toán chứng từ ghi sổ, căn cứ để ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các sổ kế toán tổng hợp là các chứng từ ghi sổ.
Chứng từ ghi sổ là loại chứng từ sử dụng để tập hợp sớ liệu của chứng từ nguồn theo từng loại sự việc và ghi rõ content vào sổ cho từng sự việc ấy (ghi Nợ tài khoản nào, đối ứng với bên Có của những account nào, hoặc ngược lại – nhìn thấy mẫu chứng từ ghi sổ).
Chứng từ ghi sổ đủ sức lập cho từng chứng nguồn, hoặc đủ nội lực lập cho nhiều chứng từ nguồn có nội dung kinh tế giống nhau và phát sinh tiếp tục trong tháng.
Trong trường hợp lập nhiều chứng từ gốc kế toán phải lập bảng đo đạt chứng từ nguồn để thuận lợi cho việc lập chứng từ ghi sổ. Bảng đo đạt chứng từ gốc lập cho từng loại nghiệp vụ và có thể định kỳ 5
– 10 ngày lập một lần, hoặc lập một bảng luỹ kế cho cả tháng, trong đó các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vừa ghi chép theo trình tự thời gian, vừa được phân loại theo các tài khoản đối ứng. Cuối tháng (hoặc định kỳ) căn cứ vào bảng thống kê chứng từ gốc lập các chứng từ ghi sổ.
Xem thêm: Hướng dẫn cách học kế toán tổng hợp mới nhất hiện nay
4.2. Trình tự ghi sổ
Trình tự ghi chép sổ kế toán trong thể loại chứng từ ghi sổ giống như sau:
Hàng ngày nhân viên kế toán phụ trách tăng phần hành căn cứ vào các chứng từ nguồn vừa mới tra cứu lập các chứng từ ghi sổ.
đối với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều và tiếp tục, chứng nguồn sau khi rà soát được ghi vào bảng đo đạt chứng từ nguồn, cuối tháng hoặc định kỳ căn cứ vào báng tổng hợp chứng từ gốc, lập các chứng từ ghi sổ.
Chứng từ ghi sổ sau khi lập xong được chuyển đến kế toán trưởng (hoặc người được kế toán trưởng uỷ quyền) ký duyệt rồi chuyển cho bộ phận kế toán thống kê với đầy đủ chứng từ nguồn kèm theo để bộ phận này ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và ghi vào sổ cái.
Cuối tháng khoá sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng trên sổ tải ký chứng từ ghi sổ và tổng số phát sinh Nợ, tổng số phát sinh Có của từng account trên sổ cái, tiếp đó căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh.
đối với những tài khoản có xây dựng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết thì chứng từ nguồn sau khi sử dụng để lập chứng từ ghi sổ và ghi vào các sổ sách kế toán thống kê, được chuyển đến các bộ phận kế toán chi tiết có liên quan để ghi vào các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý.
Cuối tháng cộng các sỏ hoặc thẻ kế toán chi tiết theo từng content sau đó lập các bảng tổng hợp chi tiết và check đối chiếu giữa các bảng tổng hợp chi tiết với các account trên sổ cái.
Sau khi check đối chiếu khớp đúng tổng số phát sinh Nợ và tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản tổng hợp trên bảng cân đối số phát sinh với tổng số tiền tài sổ tải ký chứng từ ghi sổ và các đối chiếu đúng và hợp logíc, số liệu trên bảng cân đối số phát sinh, sổ cái, các bảng đo đạt chi tiết và các tài liệu liên quan sử dụng làm căn cứ để lập các báo cáo kế toán.
5. thể loại kế toán nhật ký chứng từ
thể loại kế toán nhật ký chứng từ khác với các hình thức kế toán không giống, thể loại kế toán nhật ký chứng từ tuân thủ theo một số nguyên tắc chủ yếu sau đây:
– mở sổ kế toán theo vế Có của các tài khoản hòa hợp với việc nghiên cứu các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bên Có của mỗi tài khoản đối ứng với Nợ các account liên quan.
– hòa hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với việc phân loại các nghiệp vụ kinh tế đó theo nội dung kinh tế (trên tài khoản kế toán).
– kết hợp rộng rãi việc hạch toán đo đạt với việc hạch toán chi tiết của đại bộ phận các tài khoản trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một công cuộc ghi chép.
– kết hợp việc ghi chép kế toán hàng ngày với việc tụ họp dần các kpi kinh tế quan trọng cho công tác cai quản và lập báo cáo.
– dùng các mẫu sổ in sẵn liên kết đối ứng tiêu chuẩn của tài khoản và các chỉ tiêu hạch toán chi tiết các kpi báo biểu quy định.
5.1. Các loại sổ kế toán
Những sổ sách kế toán chủ yếu được dùng trong thể loại kế toán nhật ký chứng từ bao gồm:
– Nhật ký chứng từ.
Nhật ký chứng từ là sổ kế toán thống kê hòa hợp hệ thống các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và phân loại theo nội dung kinh tế.
Nhật ký chứng từ được xây dựng theo vế Có của account, đối ứng với Nợ các account liên quan.
Nhật ký chứng từ xây dựng cho all các account, có thể mở một nhật ký chứng từ cho một account, hoặc xây dựng một nhật ký chứng từ để dùng chung cho một số tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau, hay có quan hệ mật thiết với nhau.
Khi xây dựng nhật ký chứng từ sử dụng chung cho nhiều account, thì trên nhật ký chứng từ đó, số liệu phát sinh của mỗi tài khoản được phản ánh riêng biệt ở một số định dạng hoặc một số cột cho mỗi tài khoản.
Nhật ký chứng từ chỉ quy tụ số phát sinh bên Có của account, nghiên cứu theo các account đối ứng Nợ. Riêng đối với các nhật ký chứng từ ghi Có các account thanh toán để giúp cho yêu cầu nghiên cứu và tra cứu, ngoài phần chính dùng để phả ánh số phát sinh bên Có, còn đủ nội lực bố trí thêm các cột để phản ánh số phát sinh Nợ.
Nhật ký chứng từ xây dựng theo từng tháng, hết mỗi tháng phải khoá sổ nhật ký chứng từ cũ và mở nhật ký chứng từ mới cho tháng kế tiếp.
Mỗi lần khoá sổ cũ, mở sổ mới phải chuyển toàn bộ số dư quan trọng sang sổ mới. Nhật ký chứng từ phải xây dựng theo các mẫu biểu quy định, có 10 mẫu biểu quy định, từ Nhật ký chứng từ số 1.. Đến số 10.
Cơ sở dữ liệu duy nhất để ghi vào sổ cái là nhật ký chứng từ, theo hình thức này mỗi tháng chỉ ghi vào sổ cái 1 lần vào ngày cuối tháng, ghi lần lượt từ nhật ký chứng từ số 1,2,… đến số 10.
– Bảng kê:
Bảng kê được sử dụng trong trường hợp, khi các kpi hạch toán chi tiết của một số account không thể hòa hợp trực tiếp trên nhật ký chứng từ được.
Khi sử dụng bảng kê thì chứng gốc cùng loại đầu tiên được ghi vào bảng kê cuối tháng cộng số liệu của các bảng kê được chuyển vào nhật ký chứng từ có liên quan. Bảng kê phần lớn mở theo vế Có của tài khoản.
Riêng đối với các nghiệp vụ về vốn bằng tiền, bảng kê được xây dựng theo vế Nợ. so với bảng kê sử dụng để theo dõi các nghiệp vụ thanh toán, ngoài số phát sinh Có, còn phản ánh số phát sinh Nợ, số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ của từng account chi tiết theo từng khách nợ, chủ nợ, từng khoản thanh toán.
– Sổ cái:
Sổ cái là sổ kế toán tổng hợp mở cho cả năm, mỗi trang sổ dùng cho một account, trong đó phản ánh số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và số dư cuối tháng.
Số phát sinh Có của mỗi tài khoản được ghi vào sổ cái quét từ nhật ký chứng từ ghi Có tài khoản đó, số phát sinh Nợ được phản ánh chi tiết theo từng tài khoản đối ứng Có get từ các nhật ký chứng từ có liên quan, sồ cái chỉ ghi một lần vào ngày cuối tháng sau khi đang khoá sổ test đối chiếu số liệu trên các nhật ký chứng từ.
– Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết:
Trong thể loại kế toán nhật ký chứng từ, việc hạch toán chi tiết của đại bộ phận các tài khoản được thực hiện kết hợp ngay trên các nhật ký chứng từ hoặc bảng kê của các tài khoản đó vì vậy không phải xây dựng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết riêng.
so với tài sản cố định, vật tư hàng hoá, sản phẩm và chi phí sản xuất cần phải nắm chắc tình ảnh biến đổi thường xuyên và chi tiết theo từng loại, từng thứ, từng đối tượng, hạch toán cả về tỉ lệ lẫn giá trị nên k thể phản ánh hòa hợp đấy quá đủ trong Nhật ký chứng từ và bảng kê được mà bắt buộc phải mở sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết riêng.
Trong trường hợp này kế toán căn cứ vào yêu cầu thống trị và điều kiện cụ thể để mở sổ, thẻ cho thích hợp. Khi xây dựng sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, cuối tháng căn cứ vào sổ thẻ kế toán chi tiết lập bảng thống kê chi tiết theo từng tài khoản thống kê để đối chiếu với sổ các và với các nhật ký chứng từ, bảng kê có liên quan.
Căn cứ để ghi vào sổ sách kế toán chủ yếu trong hình thức nhật ký chứng từ là các chứng từ gốc. tuy nhiên, để dễ dàng và chuẩn công việc ghi chép kế toán hàng ngày còn dùng hai loại chứng từ thống kê đa dạng là bảng phân bổ và tờ khai chi tiết.
Bảng phân bổ được sử dụng cho các loại ngân sách phát sinh nhiều lần và liên tục như vật liệu, tiền lương, hoặc đòi hỏi phải tính toán phân bổ giống như khấu hao tài sản cố định phân bổ vật rẻ tiền mau hỏng, phân bổ lao vụ sản xuất phụ.
Khi dùng bảng phân bổ thì chứng từ gốc trước tiên được ghi vào bảng phân bổ, cuối tháng số liệu ở bảng phân bổ được ghi vào bảng kê và nhật ký chứng từ có liên quan.
Tờ kê chi tiết cũng là loại chứng từ dùng để tổng hợp và phân loại chứng từ nguồn. Khi sử dụng các tờ kê chi tiết thì số liệu từ chứng từ nguồn trước nhất được ghi vào tờ kê chi tiết cuối tháng số liệu của các tờ kê chi tiết được ghi vào các nhật ký chứng từ và bảng kê liên quan.
Xem thêm: Tổng hợp các tài khoản kế toán cho doanh nghiệp mới nhất 2020
5.2. Trình tự ghi sổ
Trình tự ghi chép kế toán trong hình thức nhật ký chứng từ như sau:
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc đã được tra cứu quét số liệu ghi trực tiếp vào nhật ký chứng từ hoặc bảng kê có liên quan.
Trường hợp ghi hàng ngày vào bảng kê thì cuối tháng phải chuyển số liệu tổng của bảng kê vào nhật ký chứng từ.
đối với các loại ngân sách sản xuất hoặc lưu thông) phát sinh nhiều lần hoặc mang thuộc tính phân bổ, thì các chứng từ gốc trước nhất được hội tụ và phân loại trong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu của bảng phân bổ ghi vào bảng kê và nhật ký chứng từ có liên quan cuối tháng khoá sổ các nhật ký chứng từ, tra cứu đối chiếu số liệu trên các nhật ký chứng diễn ra từ thấy khớp đúng hơn logíc thi quét số liệu của các nhật ký chứng từ ghi trực tiếp vào sổ cái.
so với các account phải mở sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết thì chứng từ gốc sau khi ghi vào nhật ký chứng từ, hoặc bảng kê được chuyển sang các bộ phận kế toán chi tiết để ghi vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết.
Cuối tháng, cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, lập các bảng đo đạt chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ cái.
Sau khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong nhật ký chứng từ, bảng kê và các bảng thống kê chi tiết là cơ sở để lập bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán khác.
6. thể loại kế toán trên máy vi tính
6.1 Đặc trưng cơ bản và các loại sổ kế toán của hình thức kế toán trên máy vi tính
Đặc trưng cơ bản của thể loại kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính.
software kế toán được thiết kế theo quy tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc phối hợp các thể loại kế toán quy định trên đây.
phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, chẳng phải ìn được đấy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định.
– Các loại sổ cửa thể loại kế toán trên máy vi tính: software kế toán được design theo thể loại kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng k hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay.
đối với hình thức kế toán trên máy vi tính các loại sổ rất thông dụng, phong phú, đặc biệt các sổ kế toán chi tiết. Tuỳ theo yêu cầu thống trị mà kế toán sử dụng các loại sổ, in ấn lưu trữ cho phù hợp.
6.2. Trình tự ghi sổ kế toán theo thể loại kế toán trên máy vi tính
Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ hoặc Bảng thống kê chứng từ kế toán cùng loại đang được check, được sử dụng sử dụng căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, account ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng, biểu được design sẵn trên software kế toán.
Theo quy trình của software kế toán, các thông tin được auto nhập vào sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái hoặc Nhật ký – Sổ Cái ) và các sổ thẻ kế toán chi tiết liên quan.
Cuối tháng (hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài chính.
Việc đối chiếu giữa số liệu đo đạt với số liệu chi tiết được thực hiện auto và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin vừa mới được nhập trong kỳ. Người sử dụng kế toán đủ nội lực check, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đang in ra giấy.
Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo quy định.
Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán thống kê và sổ kế toán chi tiết dượt in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay.
Nguồn: https://hocketoanthuehcm.edu.vn/